Chào mừng quý vị đến với Website của thầy Đào Phú Hùng-TVQN.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Tài liệu sức khoẻ >

Y KHOA

Y KHOA            VẬN MỆNH

NHỊP SINH HỌC

Đồng hồ sinh học có tác dụng làm cho cơ thể con người hoạt động theo một chu kỳ. Những đo lường, quan sát các hoạt động sinh lý con người qua huyết áp, điện tâm đồ, điện não đồ và hàng loạt các chỉ số khác đều nhất quán đến tác dụng của đồng hồ sinh học. Ở người bình thường chiếc đồng hồ sinh học hoạt động theo chu trình sau:

1 giờ: Cơ thể người bắt đầu bước vào giai đoạn ngủ không sâu, dễ tỉnh giấc và thường mẫn cảm với sự đau đớn.

2 giờ: Phần lớn các bộ phận trên cơ thể tiết nhịp cực chậm. Gan làm việc khẩn trương để tạo ra những chất cần thiết và thải ra những chất độc tồn tích trong ngày.

3 giờ: Toàn thân nghỉ ngơi, cơ bắp thả lỏng, nhịp tim, nhịp thở đều giảm.

4 giờ: Huyết áp xuống thấp, máu lên não ít nhất, nhịp hoạt động của mọi bộ phận đều chậm. Là thời gian thính giác rất nhạy, dễ tỉnh giấc.

5 giờ: Thận không bài tiết, lần lượt xảy ra các giai đoạn ngủ: ngủ nông, ngủ sâu, mơ và không mơ, nếu tỉnh dậy sẽ rất sảng khoái, tinh thần minh mẫn.

6 giờ: Huyết áp và nhiệt độ cơ thể bắt đầu tăng. Tim đập nhanh, máu tuần hoàn mạnh, là thời gian bắt đầu tỉnh giấc, dễ bị cảm lạnh nhất.

7 giờ: Chức năng miễn dịch mạnh, bài tiết tăng cường. Đây là thời gian mà khả năng đề kháng với bệnh tật của cơ thể cao hơn cả.

8 giờ: Toàn bộ chất độc được thải ra, không nên uống rượu vào giờ này vì rất rễ ảnh hưởng đến gan.

9 giờ: Hoạt động thần kinh tăng, não sản sinh ra Adrenalin và Noradrealin, tinh thần sảng khoái, tim hoạt động mạnh.

10 giờ: Cơ thể ở trạng thái dồi dào sức lực, khả năng chú ý và ghi nhớ đạt mức độ tối đa. Đây là thời gian làm việc hiệu quả nhất.

11 giờ: Cơ thể sung sức, tim hoạt động ổn định.

12 giờ: Là thời điểm thích hợp nhất cho ăn uống, dịch vị tiết nhiều

13 giờ: Mọi hoạt động bắt đầu chậm lại, cơ thể đòi hỏi được nghỉ ngơi

14 giờ: Phản ứng chậm chạp, là thời điểm thấp thứ hai trong ngày

15 giờ: Năng lực làm việc dần dần hồi phục, các cơ quan mẫn cảm nhất như khứu giác và vị giác bắt đầu hoạt động.

16 giờ: Lượng đường trong máu tăng nhưng không lâu

17 giờ: Là thời điểm hiệu suất làm việc cao, suy xét nhạy bén.

18 giờ: Hoạt động thần kinh tăng cao, thể lực sung mãn.


Có hai nhân tố ngăn trở nhịp sinh học của tế bào, dẫn đến sự mất cân bằng của cơ thể. Đó là thói quen lấy đêm làm ngày và làm xáo trộn điện tích trong cơ thể, mất quân bình âm dương ở tế bào.

Mỗi tế bào có chức năng độc lập. Hoạt tính của cả cơ thể là do hoạt tính và tác động qua lại giữa các tế bào hợp nên. Vì vậy nhịp sinh học của cơ thể phải xét từ tế bào.

Tế bào chứa chất nguyên sinh, trong đó diễn ra hai quá trình đồng hóa và dị hóa. Đồng hóa là sự liên kết các chất đưa vào để cơ thể thành các chất phức tạp, xây dựng chất nguyên sinh mới làm tăng thêm và tích tụ năng lượng. Dị hóa là hoạt động phân tách các chất phức tạp thành các chất đơn giản để giải phóng năng lượng, thực hiện các hoạt động bên trong và bên ngoài của tế bào. Như vậy đồng hóa là làm tăng chất nguyên sinh, còn dị hóa là làm phá vỡ các chất nguyên sinh. Hai quá trình này kết hợp nhau và tăng cường lẫn nhau.

Điều khiển nhịp điệu đồng hóa và dị hóa là ánh sáng và nhiệt độ. Ánh sáng và nhiệt độ càng mạnh thì sự biến đổi chất nguyên sinh và các men (enzym) càng rõ, càng tích cực hơn. Từ 3 giờ đến 15 giờ, môi trường bên trong cơ thể thiên hẳn về tính chất axit (+). Nếu thời gian này ta lao động vừa phải, hợp lý, khoa học thì sẽ làm sự cân bằng axit - kiềm thiên sang phía axit. Như thế, ánh sáng ban ngày làm quá trình dị hóa trong mỗi tế bào tích cực hơn.

Nếu giảm ánh sáng và nhiệt độ thì hoạt tính của tế bào cũng giảm theo. Nó sẽ gây tình trạng đầy chất nguyên sinh trong tế bào và giảm sự phân hủy (dị hóa), khiến tế bào chuyển sang trạng thái không tích cực. Đó là thời điểm từ 15 giờ đến 3 giờ. Thời gian này, nhờ sự hỗ trợ của môi trường nội môi, tế bào làm việc phục hồi, tích lũy và chuyển sang tính chất kiềm nhiều hơn (-). Vậy nhịp điệu ngày và đêm đồng hành với nhịp sinh học bên trong tế bào (tức chuyển trạng thái axit hay kiềm).

Có hai nhân tố ngăn trở nhịp sinh học của tế bào, đó là:

Không tuân thủ nhịp sinh học ngày đêm: Tức là ban ngày thì ngủ, còn ban đêm thì làm việc. Nếu sống và làm việc trái tự nhiên, phá vỡ sự hòa hợp của nhịp sinh học tế bào và sự phân bố ánh sáng trong ngày và đêm thì sẽ bị ốm đau, bệnh tật, stress, thần kinh...

Ban ngày, năng lượng mặt trời (bức xạ hồng ngoại, bức xạ phôtôn, bức xạ tia cực tím, bức xạ điện từ và các dòng các hạt) làm ion hóa các chất lỏng trong cơ thể và các nhân tố khác mà tăng cường các phản ứng sinh hóa, làm tăng tính tích cực của cơ thể. Ban đêm, nhiệt độ cơ thể giảm, trong khi phần lớn các enzym chỉ hoạt động tối ưu ở 37-38 độ C. Khi nhiệt độ cơ thể giảm, các mạch co vào, các men giảm hoạt động; chỉ hai nhân tố này thôi cũng đã làm kém hẳn việc tiêu hóa thức ăn và đào thải sản phẩm đã tiêu hóa.

Lối sống trái tự nhiên ấy làm cơ thể bị đọng xỉ ghê gớm, chưa kể chuyện tốn hao năng lượng cho việc thức đêm. Và dĩ nhiên là cơ thể hao mòn quá sớm. Vì thế, những người làm nghệ thuật hay sáng tác về ban đêm thường bị “cháy” nhanh và đã ra đi đúng lúc tài năng đang phát triển.

Làm xáo trộn điện tích trong cơ thể, mất quân bình âm dương ở tế bào: Bề mặt trái đất và khí quyển bao quanh có điện tích âm. Hai chân ta nạp điện tích âm. Đầu nhờ hô hấp và tiếp xúc không khí sẽ có điện tích dương. Còn phần giữa thân mình có điện tích trung hòa. Các chỉ số đó bảo đảm cơ thể hoạt động bình thường (cả môi trường bên trong và dòng điện sinh học).

Hiện nay, con người sống theo kiểu hiện đại: chân đi giày cách điện, mặc áo quần tổng hợp, sàn nhà trải đệm nhân tạo, ngồi ghế nhựa... làm 2 bàn chân không nạp điện tích âm. Vì thế, cơ thể thừa điện tích dương, đẩy môi trường bên trong thiên sang tính chất axit và hướng các phân tử lớn của cơ thể hoạt động bất lợi.

Trước hết, nó làm thay đổi hoạt tính của các men (enzym) trong từng tế bào, khiến chúng không thể phân giải các chất đi vào tế bào đến trạng thái cuối cùng để tống ra dễ dàng. Ví dụ, chất đạm sẽ dừng lại ở giai đoạn axit uric chứ không phân giải đến mức cuối cùng là nước tiểu; hoặc chất bột dừng lại ở cacbon oxit chứ không biến thành cacbonic... Hậu quả là trong cơ thể, hàm lượng axit uric và cacbon oxit cao, gây hàng loạt bệnh. Dùng thuốc chữa các bệnh này là hoàn toàn vô ích.

Trong cơ thể có những phân tử lớn như phân tử AND. Cơ thể thừa điện tích dương sẽ làm nó thay đổi hướng đi, không thực hiện được chức năng của chúng. Vì thế cơ thể bị bệnh.

Muốn nhịp sinh học trong tế bào diễn tiến bình thường, nên:

Tuân thủ thức, ngủ theo nhịp điệu ngày đêm: Nên đi ngủ đúng lúc, đúng mùa và dậy lúc 5-6 giờ sáng. Lao động chân tay vừa phải trong ngày để kích thích tốt quá trình phân giải và tổng hợp bên trong tế bào: cân bằng âm dương, cân bằng axit, kiềm trong cơ thể.

Điều chỉnh tổng diện tích trong ngày: Ban ngày nằm ít vì năng lượng cơ thể vận hành tốt ở tư thế đứng, tư thế dọc. Ở tư thế nằm ngang, điện tích phân bổ khác đi. Hiệu số điện thế sẽ bị vi phạm, tỷ lệ không cân bằng. Khi đứng dọc, các dòng điện đi từ mặt đất lên tầng bình lưu sẽ hỗ trợ cho sự vận hành năng lượng của cơ thể. Ngược lại, ở tư thế nằm ngang, chúng bị cản trở. Mặt khác, ban ngày, các dòng điện trái đất vận hành có lợi ở tư thế đứng của cơ thể: còn ban đêm thì có lợi ở tư thế nằm ngang.

Buổi sáng và buổi tối nên tắm, giội nước, giúp việc phân phối điện tích đồng đều trong cơ thể.

Đi bộ bằng chân đất, xoa bóp cơ thể, ngâm chân nước muối.

Bằng cách áp dụng các biện pháp tự nhiên và đơn giản ấy, chúng ta có thể tránh được nhiều bệnh, thậm chí có thể chữa khỏi những bệnh rối loạn chức năng mà ta đã uống nhiều thứ thuốc đắt tiền nhưng không khỏi.

Có những thói quen hàng ngày phổ biến ví dụ như tắm, đánh răng, hay thậm chí là cách chúng ta thở, hút thuốc lá, uống rượu, ăn vặt... đều có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta.

Ngoài ra, có những yếu tố tiềm ẩn khác cũng đe dọa chúng ta. Nếu không biết, vô tình chúng ta sẽ đặt sức khỏe của mình trong "vòng nguy hiểm".

Chính vì vậy, hãy để tâm lưu ý đến 6 thói quen phổ biến hàng ngày dưới đây.

Tắm hàng ngày bằng nước nóng

Tắm nước nóng và sử dụng xà phòng hàng ngày có thể giúp bạn loại bỏ các bụi bẩn bám trên da. Tuy nhiên nó cũng làm cho các chất dầu tự nhiên tiết ra từ da bị loại bỏ đi và làm cho da bị khô, dễ bị kích thích và thậm chí nhiễm trùng. Để tránh các vấn đề tiềm tàng này, nên hạn chế tắm nước nóng, thay vào đó hãy tắm bằng nước lạnh hoặc nước ấm để tránh khô da và làm mất nước cơ thể.

Súc miệng sau khi đánh răng

Súc miệng sau khi đánh răng thực sự không làm cho sạch miệng hơn mà còn làm thiệt hại sức khỏe của bạn bởi vì nó loại bỏ florua - chất thông thường bảo vệ răng của bạn. Vì vậy, nên chờ khoảng 30 phút sau khi đánh răng mới nên uống nước hoặc các chất lỏng khác. Phương pháp tốt nhất là đánh răng trước khi ăn và sau khi sử dụng nước súc miệng. Hơn nữa, tốt nhất là không làm ướt bàn chải trước khi đánh răng. Vì điều này làm giảm tính chất và tác dụng của kem đánh răng.

Ngồi toilet

Các nghiên cứu cho thấy rằng cách chúng ta ngồi trên toilet có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của chúng ta. Nếu ngồi lâu hoặc không đúng cách có thể gây ra vấn đề về đường ruột như bệnh trĩ hay bệnh về ruột (diverticular). Tư thế ngồi xổm sẽ tốt hơn. Với những người có triệu chứng bệnh nói trên thì được khuyến cáo nên chọn tư thế ngồi toilet nhưng hai chân được kê lên cao, tựa như tư thế ngồi xổm.

Sạch sẽ quá

Liên tục dọn dẹp nhà cửa sao cho thật sạch bóng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta mạnh mẽ. Điều này là do căng thẳng dẫn đến huyết áp cao. Hơn nữa, thuốc xịt được sử dụng để loại bỏ bụi hoặc làm mát không khí trong phòng có khả năng phát triển bệnh hen suyễn.

Thở sai cách

Nói đến hít thở, có người cho rằng không cần phải học vì thở là lẽ đương nhiên khi chúng ta còn đang sống. Có những lúc chúng ta cố hít thở thật sâu để cảm thấy như toàn bộ ngực của mình được chứa đầy không khí. Vì bình thường, khi chúng ta hít thở thì không khí sẽ theo vào lồng ngực. Nhưng nó là một phương pháp hoàn toàn sai, vì nó ngăn cản oxy hóa thích hợp ở đáy phổi nơi chứa các mạch máu. Cách thở đúng là thở ở bụng. Hãy cố gắng co cơ bụng khi hít vào và giãn ra khi thở ra. Phương pháp này là dễ nhất để giảm nguy cơ căng thẳng và áp lực máu thấp hơn.

Ăn uống cả ngày

Giảm hoạt động trong ngày hoặc ăn trước khi đi ngủ là nguyên nhân khiến cơ thể giữ lại một lượng calo và chất béo trong cơ thể. Vì vậy, các chuyên gia dinh dưỡng cũng khuyến khích chúng ta nên ăn các món ăn có hàm lượng calo cao vào buổi sáng, để có thể tiêu hao năng lượng trong suốt cả ngày. Không nên ăn nhiều đồ ăn chứa calo vào buổi tối. Bối tối, có thể ăn một lượng thức ăn ít hơn các bữa khác trong ngày và sau khi ăn, có thể đi bộ, chỉ 15 phút cũng được.


Nhắn tin cho tác giả
Đào Phú Hùng @ 22:48 19/03/2012
Số lượt xem: 790
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến