Chào mừng quý vị đến với Website của thầy Đào Phú Hùng-TVQN.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Chia sẻ tri thức >

Ngô Chi Lan

Người đàn bà bí mật của Vua Lê Thánh Tông

 

Dư luận xưa đồn rằng, Kim Hoa học sĩ Ngô Chi Lan là người đàn bà bí mật của Vua Lê Thánh Tông. Vậy, thực hư quan hệ vua tôi trong chuyện này là thế nào?

Ngô Chi Lan, còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, là người làng Phù Lỗ, huyện Kim Hoa, trấn Kinh Bắc (nay là huyện Sóc Sơn, Hà Nội).

Sử sách chép, bà Ngô Chi Lan rất đẹp, lại giỏi thi ca, từ khúc. Bà là vợ của Đông các Đại học sĩ Phù Thúc Hoành, là cháu gái ruột của Thứ phi Ngô Thị Ngọc Dao. Khi Thái tử Tư Thành, con trai của bà Ngọc Dao lên ngôi vua, bắt đầu triều đại Lê Thánh Tông (1460 -1497), thì Ngô Chi Lan thường vào cung bái kiến cô mình. 

Ảnh minh họa.

 

Cũng như nhiều cung cấm các triều, Hoàng đế Lê Thánh Tông cho tuyển những trí thức phụ nữ vào cung làm chức học sĩ để dạy dỗ các cung nữ. Thế là bà Ngô Chi Lan được tuyển chọn, thậm chí nhà vua còn cho hầu nghiên bút và dự nhiều cuộc xướng hoạ thơ văn. Theo sử sách, bà không những được Thái hậu Ngọc Dao vô cùng yêu chiều, mà Vua Lê Thánh Tông cũng rất đỗi mến mộ.

Tương truyền, có lần nhà vua đi dạo, dừng chân thưởng ngoạn tại Thanh Dương Môn, chợt thấy làn mây biếc là đà trên mái điện bèn sai quan thị họ Nguyễn làm từ vịnh cảnh. Khi từ khúc "Uyên ương" dâng lên, nhà vua không vừa ý và truyền ngay nữ học sĩ họ Ngô làm bài khác. Ngô Chi Lan vâng mệnh, thảo luôn một chương, trong đó có hai câu kết rất đắc vị: Điện ngọc ngói mời mây biếc phủ/ Cẩm Giang sóng lụa sắc hồng dâng. Nghe xong, nhà vua lấy làm hài lòng, khen tài văn hay chữ tốt của bà và ban hiệu là Phù gia nữ học sĩ (họ của chồng bà).

Kể từ buổi đó, tên tuổi của Phù gia nữ học sĩ Ngô Chi Lan ngày càng vang dội khắp kinh kỳ. Nhiều tao nhân mặc khách vô cùng kính nể, nhưng cũng không ít kẻ tiểu nhân ganh ghét, đố kỵ. Và có lẽ vì thế, bà bỗng... vướng phải thị phi. Người ta đồn rằng, một ông vua trẻ có tâm hồn thi sĩ Lê Thánh Tông gần gũi với người đẹp tài hoa Ngô Chi Lan - có lẽ không ít lần cái nghĩa vua tôi đã xảy ra trong màn loan giường ngự. Cụ thể, dân gian đã loan truyền một câu thơ rất kín đáo, mà cũng rất sỗ sàng: Quân vương muốn được khuây buồn nản/ Hãy gọi Kim Hoa học sĩ vào. Điều này nghĩa là khi vua thấy thiếu thốn thế nào, thì phải gọi bà học sĩ vào trò chuyện...

Không dừng ở đó, dư luận còn có câu ác hơn: Lầu rồng, thơ cạn, tiệc tàn/ Năm canh bảnh mắt còn khan giấc nồng. Năm canh là suốt đêm; bảnh mắt là gần sáng thì mở mắt ra, nhưng vẫn "khan giấc nồng" - còn muốn ôm nhau ngủ nữa.

Vậy, nữ học sĩ Ngô Chi Lan có phải là người đàn bà bí mật của Vua Lê Thánh Tông? Nhiều sử gia thời đó cho rằng, những vần thơ vô danh bội nhọ trên thực chất là có ý châm chọc và xuyên tạc về phẩm hạnh của Phù gia nữ học sĩ. Tiến sĩ Thái Thuận, Phó súy Tao đàn Nhị thập bát tú và là tác giả của tập thơ Lữ Đường, đã lên tiếng khuyên giải bà: “… Nào phải một mình phu nhân mới bị khốn vì ngòi bút trào lộng của những kẻ ác…, mà các bậc trinh liệt xưa nay đã thường bị những lời thơ khinh bạc trây bẩn, song nước Ngân Hà dễ gì khuấy cho nhơ, nên nữ học sĩ cũng chẳng cần bận tâm làm gì”.

Tuy nhiên, những tin đồn đó đã làm cho nữ sĩ Chi Lan vô cùng buồn rầu. Có lúc, bà đã mượn giấc mộng để thổ lộ tâm tư tình cảm của mình với mọi người trong cung nội: “Bấy nay tôi chầu hầu Thuận đế, thi phụng tôn vương. Nghĩa cả là vua tôi, song vẫn còn tình thâm đồng tộc, lại vốn Ngô gia phép tắc; Phù gia trọng đạo… Thế mà lẽ nào trong giới thi văn lại có hạng đơn bạc, đặt giọng quàng xiên, tệ hại cho đành?”.

Bách khoa toàn thư mở viết: Theo "Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa" của Nguyễn Dữ, năm ngoài 40 tuổi, bà Ngô Chi Lan mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. GS. Trịnh Vân Thanh ghi Phù gia nữ học sĩ mất năm 41 tuổi, còn Ngô Văn Học chép bà mất ở tuổi ngoài 50. Sử liệu lại ghi, Vua Lê Thánh Tông mất ở tuổi 55. Nếu bà sinh trước vị vua này và bài thơ "Điếu vua Lê Thánh Tông" cũng đúng là của bà, tức bà mất sau vua Lê, thì thông tin của Ngô Văn Học là phù hợp hơn cả.

Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề Kim Hoa nữ học sĩ. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

 

                                                                                   Theo Đất Việt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài tham gia cuộc thi viết “Cả nước cùng Thủ đô hướng tới 1000 năm Thăng Long - Hà Nội”:

 

Nữ học sĩ Ngô Chi Lan  


Tên thật của bà là Ngô Chi Lan, tự Quỳnh Hương, tục danh Ngô Thị Hĩm; còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ. Bà sinh vào khoảng giữa thế kỷ XV, tại làng Phù Lỗ, xã An Lạc, huyện Kim Hoa, xứ Phúc Yên (nay là xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn).

Trước đền thờ Học sỹ Ngô Chi Lan.

Nhiều người biết đến Ngô Chi Lan. Bởi bà không chỉ có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” mà còn có tài về văn chương, tiếng tăm lừng lẫy. Duy có một điều, chi tiết cụ thể về gia thế của bà, nhất là thân phận “ba chìm, bảy nổi” của nữ học sĩ thì lại rất ít có người biết đến. 

Vì có người cô ruột là Ngô Thị Ngọc Dao, thứ phi của Vua Lê Thái Tông nên Ngô Chi Lan sớm được theo cô vào cung Khánh Phương để hầu hạ. Song, cuộc đời của nữ học sĩ đã gặp phải muôn vàn khó khăn, nhất là từ khi thứ phi Ngọc Dao có thai, trong nội cung thường xảy ra lục đục bằng những vụ ganh ghét, hãm hại lẫn nhau. Trước tình hình trên, để bảo đảm an toàn về tính mạng, thứ phi Ngọc Dao đã được vợ chồng công thần Nguyễn Trãi đưa đi trốn, còn cô cháu gái (tức Ngô Chi Lan) thì được bà Nguyễn Thị Lộ (ái thiếp của Nguyễn Trãi) giấu đem về nhận làm con nuôi, cải thành họ Nguyễn và đổi tên, gọi là Nguyễn Hạ Huệ.

Chồng Hạ Huệ là Phù Thúc Hoành; tự Nhâm Nhân, người làng Phù Xá Đoài (nay thuộc xã Phú Minh, cùng huyện với Nguyễn Hạ Huệ). Ông Hoành thi đỗ làm quan, được giữ chức Đông các Đại học sĩ. Sau vụ án “Lệ Chi Viên”, mẹ nuôi của bà là Nguyễn Thị Lộ bị khép án tử hình, bà phải cải dạng, đổi tên thật là Chi Lan và trốn tránh ở khắp mọi nơi.

Đến khi Thái tử Hạo (Tư Thành) con của thứ phi Ngọc Dao lên ngôi vua, bắt đầu triều đại Lê Thánh Tông (1460 -1497) nữ học sĩ Ngô Chi Lan lại được dịp vào trong cung bái kiến cô mình, giờ là Thái hậu Ngọc Dao. Bản thân Chi Lan lúc bấy giờ đã rất tài giỏi thi ca, từ khúc, lại làu thông về kinh sử, nên không những được Thái hậu vô cùng yêu chiều, mà nhà vua Lê Thánh Tông cũng rất đỗi mến mộ.

Tương truyền, mỗi khi nhà vua đi du ngạn, hoặc dự yến tiệc ở bất cứ nơi đâu, học sĩ Ngô Chi Lan đều phải mang nghiên bút theo chầu hầu. Vì có biệt tài sáng tác rất nhanh, nên khi xuất khẩu, lúc phóng bút, ít khi bà phải sửa chữa, dù chỉ là một chữ.

Có lần nhà vua đi dạo, dừng chân thưởng ngoạn tại Thanh Dương Môn, chợt thấy làn mây biếc là đà trên mái điện bèn sai quan thị họ Nguyễn làm từ vịnh cảnh. Khi từ khúc Uyên ương dâng lên, nhà vua không vừa ý và truyền ngay nữ học sĩ họ Ngô làm bài khác. Ngô Chi Lan vâng mệnh rồi nhón tay thảo luôn một chương, trong đó có hai câu kết rất đắc vị.

Điện ngọc ngói mời mây biếc phủ

Cẩm Giang sóng lụa sắc hồng dâng

Nghe xong, nhà vua lấy làm đắc ý, khen tài văn hay chữ tốt của nữ học sĩ nhà họ Phù (họ của chồng bà) từ đó ban hiệu là Phù gia nữ học sĩ, thưởng cho năm đĩnh huỳnh kim.

Đến một buổi tối, bà được Ngô Thái hậu cho tháp tùng du ngoạn trên núi Vệ Linh (tức núi Sóc, thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn ngày nay). Dạt dào trước sự tích đức Thánh Gióng - “Tứ bất tử” trên thần điện của người Việt, nữ sĩ cảm tác nên bài tứ tuyệt:

Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn

Muôn tía nghìn hồng đẹp thế gian

Ngựa sắt lên trời tên rạng sử

Anh hùng mãi mãi với giang san

Bài thơ ra đời, ngay lập tức không những mọi người ở trong nội cung đều biết, mà còn lan truyền ra cả ngoài phố thị, ai cũng ca ngợi và xếp vào hạng tuyệt tác. Nhà vua cũng ngỏ lời khen bà và ban tặng một cặp áo gấm màu lục, ngoài có phủ áo sa mỏng màu thiên thanh. Bài thơ đó nay vẫn được lưu giữ trong đền Sóc.

Tên tuổi Phù gia nữ học sĩ Ngô Chi Lan ngày càng tỏa sáng, tiếng tăm ngày càng vang dội, khiến tao nhân mặc khách thời đó vô cùng kính nể. Nhưng, cũng chính vì tiếng tăm lừng lẫy đó, mà một số kẻ tiểu nhân đã ganh ghét, đố kỵ, đặt thơ giễu cợt mỉa mai, nhằm hạ danh giá của bà - chẳng hạn như:

Quân vương ví phỏng cần tiêu muộn

Hãy gọi Kim Hoa học sĩ vào

Hoặc:

Tan tiệc lầu rồng thơ mệt tứ

Sáu canh chầu chực giấc nồng trưa

Những vần thơ vô danh khinh xuất trên thực chất là có ý châm chọc và xuyên tạc về phẩm hạnh, đã làm cho nữ sĩ Chi Lan vô cùng buồn rầu. Đã có lúc bà mượn giấc mộng để thổ lộ tâm tư tình cảm của mình với mọi người trong cung nội: “Bấy nay tôi chầu hầu Thuận đế, thi phụng tôn vương. Nghĩa cả là vua tôi, song vẫn còn tình thâm đồng tộc, lại vốn Ngô gia phép tắc; Phù gia trọng đạo… Thế mà lẽ nào trong giới thi văn lại có hạng đơn bạc, đặt giọng quàng xiên, tệ hại cho đành?”.

Thuở ấy trong giới Tao đàn Nhị thập bát tú (Nguyên súy Tao đàn là Lê Thánh Tông) ai ai cũng thông cảm với nỗi phiền muộn và uất ức của nữ học sĩ Chi Lan. Tiến sĩ Thái Thuận, tác giả của tập thơ Lữ Đường, cũng là Phó súy Tao đàn, đã lên tiếng khuyên giải bà,  đại ý: “… Nào phải một mình phu nhân mới bị khốn vì ngòi bút trào lộng của những kẻ xú ác…, mà các bậc trinh liệt xưa nay đã thường bị những lời thơ khinh bạc trây bẩn, song nước Ngân Hà dễ gì khuấy cho nhơ, nên nữ học sĩ cũng chẳng cần bận tâm làm gì”.

Khi vua Lê Thánh Tông băng hà, nhân ngày lễ đại hành (đặt thụy hiệu) nữ học sĩ Chi Lan cảm kích khóc điếu tiên hoàng bằng bài Đường luật nổi tiếng.

 Ba chục năm dư ngự điện vàng

Chín châu bốn bể gội ân quang

Đông Tây mở đất miền cương giới

Sự nghiệp ngang trời mệnh đế vương

Tuyết phủ xe tiên mờ mịt bóng

Hoa chờ vườn ngự bẽ bàng hương

Quán triều canh vắng còn thơ mộng

Sầu ngắm Kiều sơn lệ mấy hàng.

Nữ học sĩ Ngô Chi Lan qua đời vào tuổi ngoài năm mươi. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa nữ học sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

Sinh thời bà sáng tác rất nhiều thơ phần ứng khẩu, phóng bút… Nhưng vì đa số do không được gom lại thành tập, nên sớm bị thất truyền. Ngoài ra bà còn có tập thơ nhan đề “Mai trang tập” nhưng rất tiếc cũng đã thất truyền.

May thay, trong vài bộ sách văn học sử hiện nay có in mươi bài thơ của bà, trong đó có bốn bài tứ : “Xuân”; “Hạ”; “Thu”; “Đông”. Còn lại dăm bài tứ tuyệt khác được in trong các sách “Văn đàn bảo giám”, “Việt Nam thi văn hợp tuyển”, “Nữ lưu văn học sử”, “Kiến văn tiểu lục”  và “Truyền kỳ”. Đặc biệt,  phần chữ Hán của bốn bài “Xuân”, “Hạ”, “Thu”, “Đông” đã được người xưa khắc trên bộ Tứ bình bằng đá “vãn mẫu” (loại đá có ánh ngũ sắc). Và hôm nay, được đọc những vần thơ đầy thâm thúy, ý nhị của bà thật là điều may mắn xiết bao. Bà quả là một trong những nữ thi sĩ đầu tiên để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học viết của nước nhà.

Sự nghiệp văn chương của nữ thi sĩ Ngô Chi Lan từ thế kỷ XV xa xưa ấy, giờ đây như ngọn lửa tỏa sáng, gieo mầm, dẫn dắt cho những tài năng, trí tuệ và phong trào thơ văn trên vùng đất Sóc Sơn huyền thoại.


                                                                                                
Ngô Văn Học

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nữ sĩ triều Lê: Ngô Chi Lan

Ngô Chi Lan còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, tục danh là Ngô Thị Hĩm (không rõ năm sinh, năm mất), là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam. .......

Bà người làng Phù Lỗ (tục gọi làng Sọ), huyện Kim Hoa (sau đổi là Kim Anh), trấn Kinh Bắc (nay là huyện Sóc Sơn, thuộc ngoại thành Hà Nội).

Tương truyền, Ngô Chi lan là cháu gái thứ phi Ngô Thị Ngọc Dao, người vợ thứ năm của vua Lê Thái Tông.
Khi người cô này được tuyển vào cung, lúc ấy Ngô Chi Lan tuổi hãy còn nhỏ nhưng cũng được đi theo hầu.

Đến khi Ngọc Dao mang thai (sau sinh ra thái tử Lê Tư Thành, tức vua Lê Thánh Tông), trong nội cung xảy ra lắm chuyện lục đục, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ phải đưa Ngọc Dao đi trốn, thì Ngô Chi Lan cũng được vợ chồng này đem về cho ở trong nhà, nhận làm con nuôi, cải thành họ Nguyễn và đổi tên là Hạ Huệ.

Năm 1442, bị vu tội giết vua, cha mẹ nuôi phải nhận án tử hình. Ngô Chi Lan liền cải dạng, đổi lại tên thật, trốn đi ở nhiều nơi, cho đến khi thái tử Lê Tư Thành nối ngôi vua bà mới dám trở về.

Bà nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, giỏi thi ca, thông hiểu âm nhạc và viết chữ đẹp. Chính vì vậy, mà bà đã được vua Lê Thánh Tông ban hiệu là Kim Hoa nữ học sĩ, là Phù Gia nữ học sĩ; cho dự nhiều cuộc xướng họa thơ văn, và cho bà đảm đương việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân.

Chồng của bà là Phù Thúc Hoành (? - ?), người làng Phù Xá, tuy không đỗ đạt, nhưng nhờ tài văn chương, ông được cử làm giáo thụ chuyên giảng Kinh Dịch ở trường Quốc Tử Giám, sau chuyển sang Viện Hàn lâm, thụ chức Đông các Đại học sĩ. Hiện ông còn hai bài thơ chữ Hán được chép trong Trích diễm thi tập của danh sĩ Hoàng Đức Lương.

Buổi ấy, vợ chồng bà kết giao với nhiều bạn thơ ở chốn kinh kỳ và thường tổ chức những buổi gặp gỡ bình luận văn chương.

Nữ sĩ Ngô Chi Lan mất năm nào không rõ. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa nữ học sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình nữ sĩ.


Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai trang tập (Tập thơ vườn mai). Ở thời Hoàng Đức Lương, Mai trang tập hãy còn lưu hành, sau đã thất truyền cho đến nay (2010).

Hiện thơ bà chỉ còn lại trên dưới mười bài in rải rác trong các sách Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh Nam chích quái, Kiến văn tiểu lục và Trích diễm thi tập. Tạm liệt kê ra như sau:
-Chùm thơ vịnh bốn mùa: gồm 4 bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán.
-Chùm thơ vịnh bốn mùa: gồm 4 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Nôm (dịch Nôm 4 đoạn đầu của 4 bài thơ chữ Hán trên, tuy nhiên không biết do tác giả tự dịch hay do người đời sau).
-Vịnh núi Vệ Linh (tức núi Sóc): viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt.
-Thái liên khúc: gồm 2 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán.
-Thơ vịnh truyện Tô Vũ: viết bằng chữ Nôm, chưa có thông tin chi tiết.
-Thơ điếu Lê Thánh Tông: viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú, được chép trong Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa trong Truyền kỳ mạn lục.

Xét chung, thơ của Ngô Chi Lan mang bản sắc riêng, không khuôn sáo, gò ép, đẹp cả ý và lời, thường kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cảnh vật với những chi tiết chân thực của đời sống và có cái nhìn nhân ái trước cuộc đời và con người. Nửa sau thế kỉ 15, Ngô Chi Lan là một tài thơ được người đương thời đánh giá cao. Có thể coi bà là nhà thơ nữ đầu tiên có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam.

Thiên truyền kỳ Kim Hoa thi thoại (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) trong Truyền kì mạn lục, tác giả Nguyễn Dữ đã dựng lên câu chuyện thơ giữa Ngô Chi Lan và nhà thơ Thái Thuận (1440-?, phó nguyên súy Tao đàn Nhị thập bát Tú), để qua đó giới thiệu mấy vần thơ hay của Ngô Chi Lan, luận về văn chương và các tác giả nổi tiếng đương thời, như Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Nguyễn Trãi... Chuyện tuy hư ấu hoang đường, song nó chứng tỏ vị trí của Ngô Chi Lan trong văn học và lòng thành kính của hậu thế đối với bà.

Cũng theo câu chuyện trên thì "năm ngoài 40 tuổi nàng (tức Ngô Chi Lan) mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên".
GS. Trịnh Vân Thanh (tr. 787) ghi Ngô Chi Lan mất năm 41 tuổi, còn Ngô Văn Học trong  một bài viết trên báo Hà Nội mới (số ngày 28 tháng 12 năm 2009) ghi bà mất khi tuổi ngoài 50. Nếu bà đúng là cháu gái của thứ phi Ngọc Dao và bài thơ "Điếu vua Lê Thánh Tông" cũng đúng là của bà, thì thông tin của Ngô Văn Học xét ra là phù hợp hơn cả, vì bà sinh trước vua Lê Thánh Tông (vua mất ở tuổi 55) và mất sau ông vua này.

Giới thiệu một bài thơ của nữ sĩ:
Bài thơ sau đây sáng tác theo kiểu từ khúc, đã được khắc in trong Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.
Nguyên văn
采蓮曲
相看綠鬢年
無事采溪蓮
小姑嬌不語
帶笑學撐船

蓮花遠近香
采采總山娘
莫遣風吹鬢
冰肌原自涼

Phiên âm:
Thái liên khúc
1. Tương khan lục mấn niên,
Vô sự thái khê liên.
Tiểu cô, kiều bất ngữ,
Ðái tiếu học sanh thuyền.

2. Liên hoa viễn cận hương,
Thái thái tổng sơn nương.
Mạc khiển phong xuy mấn,
Băng cơ nguyên tự hương.


Dịch nghĩa:
Khúc hát hái sen
1. Xem cô em có mái tóc xanh,
Nhân thong thả ra khe hái sen.
Cô rất duyên dáng và lặng lẽ,
Miệng chúm chím tập chèo thuyền.

2. Hương sen thoang thoảng tỏa chung quanh,
Cô em ở chốn quê hái nơi này sang nơi khác
Chẳng cần gió thổi lồng mái tóc cô,
Vì riêng làn da trắng thôi đã tự mát mẻ.


Dịch thơ:
1. Kia kìa cô gái tóc xanh
Trong khi nhàn rỗi ra ghềnh hái sen.
Dịu dàng kín đáo thuyền quyên,
Miệng hoa chúm chím ngồi thuyền tập bơi.

2. Xa gần thoang thoảng mùi sen
Hái hoa nhan nhản cô em quê mùa.
Tóc mây đừng để gió đưa,
Nước da băng tuyết vẫn thừa hương bay.


                                                                        
Bùi Thụy Đào Nguyên, soạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

Kim Hoa Nữ sỹ Ngô Chi Lan

 

     Nguyễn Thị Lộ lấy Nguyễn Trãi không có con, Ngô Thị Ngọc Dao giới thiệu cháu gái là Ngô Chi Lan ,là cháu nội Dụ vương Ngô Từ, con Thanh Quốc công Ngô Khế,em trai Ngô Thị  Ngọc Dao làm con nuôi,đổi tên là Nguyễn Hạ Huệ.Lớn lên văn thơ nổi tiếng,lấy chồng là Tiến sỹ Phù Thúc Hoành dạy ở Quốc Tử giám,ngày thường Ngô Chi Lan xướng hoạ với các bạn thơ của chồng,ai cũng phục tài.

Thời Lê Thánh Tôn, Ngô Chi Lan làm nữ Học sỹ dạy cung nữ trong cung.Tuy là phụ nữ lại không phải là thành viên Tao đàn Nhị thập bát tú,nhưng vì thơ văn nức tiếng,được nhà vua là Tao đàn Nguyên soái ưa chuộng,thường được dự các buổi bình thơ, rất được ưu đãi,được ngâm các tác phẩm mới sáng tác của mình.Tác phẩm “Vịnh mùa đông” được nhà vua trực tiếp tặng một đỉnh vàng,tác phẩm “Vịnh mùa thu” được thưởng một chiếc áo quý,các Tao đàn tướng phải ghen tỵ. Thường được đi theo Vua du ngoạn.Có lần theo Vua du ngoạn núi Vệ Linh,nơi Phù Đổng Thiên Vương bay lên trời, Ngô Chi Lan có bút tích ghi lại bài thơ.(Phạm Đình Hổ viết trong Vũ trung tuỳ bút : Có người con gái ở Phù Lỗ đến vãn cảnh,chữ đẹp văn hay ghi bài thơ …).

Sau ngày Lê Thánh Tôn mất, Ngô Chi Lan còn tiếp tục dạy cung nữ trong cung một thời gian.Lúc này phần lớn cung nữ mới được tuyển chọn,còn trẻ tuổi,một buổi học có cung nữ trẻ,nghịch ngợm hỏi:”Tưng bừng lầu Hán dạo chơi,hoa nở lầu Tần vui cuộc, có nghĩa thế nào ?” Ngô Chi Lan trầm ngâm hồi lâu,bảo :”Các em còn trẻ tuổi,nên lo chăm học hành, hỏi như thế làm gì.”.Về sau bà về nghỉ ở Phù Lỗ là quê hương Tiến sỹ Phù Thúc Hoành chồng bà,tục gọi Phù Gia trang.

     Thơ đề ở Núi Vệ Linh

 Nguyên văn :

     Vệ Linh xuân thụ bạch vân nhàn

     Vạn tử thiên hồng điểm thế gian

     Thiết mã tại thiên danh tại sử

     Anh hùng lẫm lẫm mạn giang san.          .

Dịch nghĩa:

Vệ Linh mây trắng phủ cành xuân

  Ngàn tía muôn hồng điểm thế gian

Ngựa sắt trên trời tên trong sử

Anh hùng lẫm liệt khắp giang sơn

 Tứ vịnh

 Xuân vịnh

 Sơ tịnh huân nhân thiên tự tuý

  Diệm đương lâu đài phù noãn khí

Cách liêm liễu nhứ độ anh thoa

        Nhiễu hạm hoa thu xuyên điệp khoe

         Giai tiền hồng trướng diệp thiên trường

               Phấn hạm vi vi tấm lục thường

        Tiểu tử bất tri xuân tự khổ

              Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

Hạ vịnh

     Phong xuy lựu hoá hồng phiên phiến

     Giai nhân nhàn dạ thú thiền viện

     Thưởng xân bối lập nhất hoàng oanh

     Tích cảnh ai đề song tử yến

     Quyên ỷ sa song mộng dục nê

     Khước giải hòan liêm nhàn hòan khởi

     Hương hồn chung bất đáo Liêu Tề.

          Thu vịnh

            Thanh thương phù không trùng tế cảnh

    Sương tín giao sương cô nhạn ảnh

     Thập trận liên tân ngọc tỉnh hương

         Tam canh phong lạc ngô giang lãnh

Phi huỳnh dạ độ bích lan can

Y bạc nan cầm tiễn tiễn hàn

              Thanh đoạn đồng tiêu ngưng lập cửu

            Giao đài hà xứ mịch tham loan.

      Đông vịnh 

          Bảo lô bấy hoả ngân bình tiểu

          Nhất bối la phù phá thanh hiểu

          Tuyết tương lãnh ý khâu sơ liêm

          Phong đô khinh hàng lạc hàn chiểu

          Mỹ nhân kim trướng yểm lưu tô

          Chi hộ vân song phiến phiến hồ

          Âm lý vãn hồi xuân thế giới

          Nhất chi phương tín tiểu sơn cô.

Ngô Chi Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngô Chi Lan (吳芝蘭), còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương[1], không rõ năm sinh năm mất, là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam.

[sửa] Cuộc đời

Ngô Chi Lan, người làng Phù Lỗ (tục gọi làng Sọ), huyện Kim Hoa (sau đổi là Kim Anh), trấn Kinh Bắc (nay là huyện Sóc Sơn, thuộc ngoại thành Hà Nội).

Tương truyền, Ngô Chi lan là cháu gái thứ phi Ngô Thị Ngọc Dao, vợ thứ năm của vua Lê Thái Tông. Khi người cô này được tuyển vào cung, lúc ấy Ngô Chi Lan tuổi hãy còn nhỏ nhưng cũng được đi theo hầu. Đến khi Ngọc Dao mang thai (sau sinh ra thái tử Lê Tư Thành, tức vua Lê Thánh Tông), trong nội cung xảy ra lắm chuyện lục đục, Nguyễn TrãiNguyễn Thị Lộ phải đưa Ngọc Dao đi trốn, thì Ngô Chi Lan cũng được vợ chồng này đem về cho ở trong nhà, nhận làm con nuôi, cải thành họ Nguyễn và đổi tên là Hạ Huệ.

Năm 1442, bị vu tội giết vua, cha mẹ nuôi phải nhận án tử hình. Ngô Chi Lan liền cải dạng, đổi lại tên thật, trốn đi ở nhiều nơi, cho đến khi thái tử Lê Tư Thành nối ngôi vua bà mới dám trở về. [2]

Bà nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, giỏi thi ca, thông hiểu âm nhạc và viết chữ đẹp. Chính vì vậy, mà bà đã được vua Lê Thánh Tông ban hiệu là Kim Hoa nữ học sĩ, là Phù Gia nữ học sĩ; cho dự nhiều cuộc xướng họa thơ văn, và cho bà đảm đương việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân.

Chồng của bà là Phù Thúc Hoành (? - ?), người làng Phù Xá, tuy không đỗ đạt, nhưng nhờ tài văn chương, ông được cử làm giáo thụ chuyên giảng Kinh Dịch ở trường Quốc Tử Giám, sau chuyển sang Viện Hàn lâm, thụ chức Đông các Đại học sĩ. Hiện ông còn hai bài thơ chữ Hán được chép trong Trích diễm thi tập của danh sĩ Hoàng Đức Lương.

Buổi ấy, vợ chồng bà kết giao với nhiều bạn thơ ở chốn kinh kỳ và thường tổ chức những buổi gặp gỡ bình luận văn chương.

Nữ sĩ Ngô Chi Lan mất năm nào không rõ. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa nữ học sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình nữ sĩ.

[sửa] Tác phẩm

Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai trang tập (Tập thơ vườn mai). Ở thời Hoàng Đức Lương, Mai trang tập hãy còn lưu hành, sau đã thất truyền cho đến nay (2010).

Hiện thơ bà chỉ còn lại trên dưới mười bài in rải rác trong các sách Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh Nam chích quái, Kiến văn tiểu lụcTrích diễm thi tập. Tạm liệt kê ra như sau:

  • Chùm thơ vịnh bốn mùa: gồm 4 bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán.
  • Chùm thơ vịnh bốn mùa: gồm 4 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Nôm (dịch Nôm 4 đoạn đầu của 4 bài thơ chữ Hán trên, tuy nhiên không biết do tác giả tự dịch hay do người đời sau).
  • Vịnh núi Vệ Linh (tức núi Sóc): viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt.
  • Thái liên khúc: gồm 2 bài thơ thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán.
  • Thơ vịnh truyện Tô Vũ: viết bằng chữ Nôm, chưa có thông tin chi tiết.
  • Thơ điếu vua Lê Thánh Tông: viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú, được chép trong Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa trong Truyền kỳ mạn lục.

[sửa] Nhận xét

Thơ của Ngô Chi Lan mang bản sắc riêng, không khuôn sáo, gò ép, đẹp cả ý và lời, thường kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp cảnh vật với những chi tiết chân thực của đời sống và có cái nhìn nhân ái trước cuộc đời và con người. Nửa sau thế kỉ 15, Ngô Chi Lan là một tài thơ được người đương thời đánh giá cao. Có thể coi bà là nhà thơ nữ đầu tiên có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam. [3]

[sửa] Giới thiệu thơ

Bài thơ sau đây sáng tác theo kiểu từ khúc, đã được khắc in trong Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương và Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.

Nguyên văn

采蓮曲

相看綠鬢年

無事采溪蓮

小姑嬌不語

帶笑學撐船

蓮花遠近香

采采總山娘

莫遣風吹鬢

冰肌原自涼

Phiên âm:

Thái liên khúc

1. Tương khan lục mấn niên,

Vô sự thái khê liên.

Tiểu cô, kiều bất ngữ,

Ðái tiếu học sanh thuyền.

2. Liên hoa viễn cận hương,

Thái thái tổng sơn nương.

Mạc khiển phong xuy mấn,

Băng cơ nguyên tự hương.

Dịch nghĩa:

Khúc hát hái sen

1. Xem cô em có mái tóc xanh,

Nhân thong thả ra khe hái sen.

Cô rất duyên dáng và lặng lẽ,

Miệng chúm chím tập chèo thuyền.

2. Hương sen thoang thoảng tỏa chung quanh,

Cô em ở chốn quê hái nơi này sang nơi khác

Chẳng cần gió thổi lồng mái tóc cô,

Vì riêng làn da trắng thôi đã tự mát mẻ.

[sửa] Trong Truyền kỳ mạn lục

Thiên truyền kỳ Kim Hoa thi thoại (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) trong Truyền kì mạn lục, tác giả Nguyễn Dữ đã dựng lên câu chuyện thơ giữa Ngô Chi Lan và nhà thơ Đỗ Nhuận (1446-?, Tiến sĩ năm 1466, phó nguyên súy Tao đàn Nhị thập bát Tú, cùng quê với Ngô nữ sĩ. [4]), để qua đó giới thiệu mấy vần thơ hay của Ngô Chi Lan, luận về văn chương và các tác giả nổi tiếng đương thời, như Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Nguyễn Trãi... Chuyện tuy hư ấu hoang đường, song nó chứng tỏ vị trí của Ngô Chi Lan trong văn học và lòng thành kính của hậu thế đối với bà.

[sửa] Suy đoán

Theo Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa của Nguyễn Dữ thì "năm ngoài 40 tuổi nàng (tức Ngô Chi Lan) mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên". GS. Trịnh Vân Thanh (tr. 787) ghi Ngô Chi Lan mất năm 41 tuổi, còn Ngô Văn Học ghi bà mất khi tuổi ngoài 50 [5]. Theo sử liệu, vua Lê Thánh Tông mất ở tuổi 55. Cho nên nếu bà sinh trước vị vua này và bài thơ "Điếu vua Lê Thánh Tông" cũng đúng là của bà (tức bà mất sau vua Lê), thì thông tin của Ngô Văn Học là phù hợp hơn cả.

NGÔ CHI LAN(Thế kỷ 15)


Tên thật : Ngô Chi Lan, tự là Quỳnh Hương
Tộc danh : Ngô Thị Hĩm
Bí danh : Nguyễn Hạ Huệ Chi Lan
Phẩm trật : Phù gia nữ học sĩ – Kim hoa nữ học sĩ.
Năm, nơi sinh : Khoảng tiền hậu bán thế kỷ 15 tại làng Phù Lỗ huyện Kim Hoa xứ Phúc Yên.
Quê gốc : Phúc Yên.
Tác phẩm :
"Mai trang thi tập" đã bị thất truyền. Rất nhiều thơ xuất khẩu, phóng bút cũng bị thất truyền. Hiện nay còn bốn bài từ: "Xuân", "Hạ", "Thu", "Đông" và dăm bài tứ tuyệt khác in trong các sách: "Văn đàn Bảo Giám", "Việt Nam thi văn hợp tuyển", "Nữ lưu văn học sử", "Kiến văn tiểu lục" và "Truyền kỳ mạn lục".


Nữ sĩ người làng Phù Lỗ, xà An Lạc, huyện Kim Hoa, xứ Phúc Yên (nay là huyện Kim Anh tỉnh Phúc Yên). người rất đoan trang thuỳ mị, đẹp người đẹp nết, có điều không thấy sách sử nào nói đến gia thế của bà; chỉ biết bà họ Ngô, gọi bà thứ thi Ngô Thị Ngọc Dao bằng cô và sớm được theo vào cung Khánh Phương hầu cô, (Ngô Thị Ngọc Dao là thứ phi của vua Lê Thái Tôn). Khi bà thứ phi Ngọc Dao có thai, trong cung nội thường xảy ra những vụ ganh ghét, hãm hại nhau. Thứ phi Ngọc Dao được vợ chồng công thần Nguyễn Trãi đưa đi trốn, còn cô cháu gái Ngô Chi Lan thì được bà Nguyễn Thị Lộ (ái thiếp của Nguyễn Trãi) giấu đem về nhận làm con con nuôi; cho cải họ Nguyễn và đổi cả tên, đặt là Nguyễn Hạ Huệ.

Chồng Hạ Huệ là Phù Thúc Hoành tự Nhâm Nhân, người làng Phù Xá, cùng huyện Kim Anh. Ông thi đỗ làm quan giữ chức Đông các đại học sĩ.

Sau vụ án Lê Chi viên, mẹ nuôi của bà là Nguyễn Thị Lộ bị khép án tử hình, bà phải trốn tránh, cải dạng, đổi lấy tên thật trước là Chi Lan.

Đến triều đại Lê Thánh Tôn (1460 – 1497) tức thái tử Hạo (Tư Thành) con bà Ngọc Dao lên làm vua. Bà Chi Lan lại được dịp bái kiến cô mình hiện là thái hậu, còn bản thân bà Chi Lan lúc ấy đã rất tài giỏi thi ca, từ khúc, lại làu thông kinh sử, được thái hậu Ngọc Dao yêu mến, được cả nhà vua cụng mến mộ, cho triệu vào cung hầu thơ, sau đó truyền bà kiêm chức nữ học sĩ, chuyên dạy thi sử cho các cung nhân.

Tương truyền mỗi khi nhà vua đi ngự lãm hoặc dự yến tiệc nơi đâu thì bà học sĩ phải đem nghiên bút theo chầu hầu. Vì bà có biệt tài sáng tác rất nhanh, khi xuất khẩu, khi phóng bút mà ít khi phải sữa chữa, dù là một chữ.

Có lần vua đi dạo, dừng ở Thanh Dương Môn, chợt thấy làn mây biếc là đà trên mái điện bèn sai quan thị họ Nguyễn làm từ vịnh cảnh. Từ khúc Uyên ương dâng lên, nhà vua không vừa ý và truyền bà làm bài khác. Nữ học sĩ vâng mệnh nhón tay thảo một chương, có hai câu kết rất đắc vị:

Phiên âm:
Ngưng bích phi thành kim điện ngoã
Trứu hồng chức tựu Cẩm Giang la.

Dịch thơ:
Điện ngọc ngói mời mây biếc phủ
Cẩm Giang sóng lụa sắc hồng dâng.


Vua đắc ý khen tài văn hay chữ tốt của nữ học sĩ nhà học Phù (họ của chồng Bà) từ đó ban hiệu là Phù gia nữ học sĩ, rồi lại thưởng cho bà năm đỉnh huỳnh kim.

Một buổi tối khác bà được Ngô thái hậu cho tháp tùng du ngoạn chơi núi Vệ Linh (tức núi Sóc Sơn). Dạt dào trước sử tích đức Thánh Gióng, nữ sĩ Chi Lan cảm tác nên bài tứ tuyệt:

Phiên âm:
Vệ Linh xuân thụ bạch vân nhàn,
Vạn tử thiên hồng diệm thế gian
Thiết mã tại thiên danh tại sử,
Anh uy lẫm lẫm mãn giang san.

Dịch thơ:
Vệ Linh mây trắng toả cây xanh,
Hồng tia đua chen, cảnh hữu tình.
Ngựa sắt về trời, danh sử chép,
Non sông đầy dẫy khí anh linh.


Bài thơ trên không những ở cung nội đều biết, mà còn lan truyền ra cả ngoài phố thị, ai cũng ca ngợi xếp vào hàng tuyệt tác. Nhà vua cũng ngỏ lời khen, bà bằng tình cảm chị em họ, thân mật đãi bà cặp áo gấm màu lục, ngoài phủ áo sa mỏng màu thiên thanh.

Tên tuổi Phù gia nữ học sĩ ngày càng vang dội, được giới tao nhản mặc khách thời đó rất kính nể. Nhưng cũng do đó, nữ sĩ bị hạng tiểu tâm ganh ghét đố kỵ, họ đặt thơ giễu cợt mỉa mai, nhằm hạ danh giá bà, như là:

Phiên âm:
Quân vươnh yếu dục tiên nhàn hận,
Ung hoán Kim Hoa học sĩ lai.

Dịch văn vần:
Quân vương ví phỏng cần tiêu muộn
Hãy gọi Kim Hoa học sĩ vào.


Rồi nào là:

Phiên âm:
Yến bãi Long lâu thi lực quyện
Lục canh lưu đãi hiển miên trì.

Dịch văn vần:
Tan tiệc lầu rồng thơ mệt tứ,
Sáu canh chầu chực giấc nồng trưa.


Những vần thơ vô danh khinh suất như vậy đã làm cho nữ sĩ buồn rầu vô cùng! Đã có lần bà mượn giấc mộng thổ lộ tâm sự.

"…Bấy nay tôi chầu hầu Thuận đế, thi phụng tôn vương. Nghĩa cả là vua tôi, song vẫn còn tình thâm đồng tộc, lại vốn Ngô gia phép tắc, Phù gia trọng đạo… Thế mà nỡ nào trong giới thi văn lại có hạng đơn bạc, đặt giọng quàng xiên, tệ hại cho đành?"

… Thuở ấy trong giới Tao Đàn Nhị thập bát tú. (Nguyên suý Tao Đàn là vua Lê Thánh Tôn) ai ai cũng thông cảm nỗi uất ức của nữ học sĩ Chi Lan; trong đó có tiến sĩ Thái Thuận, tác giả tập Lữ Đường, cũng là phó suý Tao Đàn, ông đã lên tiếnng khuyên giải bà. Đại ý:

"… Nào phải một mình phu nhân mới bị khốn vì ngòi bút trào lộng của những kẻ xú ác… mà các bậc trinh liệt xưa nay đã thường bị những lời thơ khinh bạc trây bẩn, song nước Ngân Hà dễ gì khuấy cho nhơ. Nên nữ học sĩ chả cần bận tâm…"

Khi vua Lê Thánh Tôn băng hà, nhân ngày lễ đại hành (đặt thụy hiệu) nữ học sĩ Chi Lan cảm kích khấp điếu tiên hoàng bằng bài đường luật:

Phiên âm:
Tam thập dư niên củng tử thần,
Cửu Châu tứ hải hữu đồng nhân.
Đông tây địa thác dư đồ hại,
Hoàng đế thiên khôi sự nghiệp tân.
Tuyết ủng chân du vô xứ mịch,
Hoa khôi thượng uyển vị thuỳ xuân?
Dạ lai do tác quân thiều mộng,
Trướng vọng Kiều Sơn thức lệ cân.

Dịch thơ:
Ba chục năm dư ngự điện vàng,
Chín châu bốn bể gội ân quang
Đông tây mở đất miền cương giới,
Sự nghiệp ngang trời mệnh đế vương.
Tuyết phủ xe tiên mờ mịt bóng,
Hoa chờ vườn Ngự bẽ bàng hương.
Quán tniều canh vắng còn thơ mộng,
Sầu ngắm Kiều Sơn lệ mấy hàng.


Nữ học sĩ Chi Lan qua đời vào lúc tuổi chừng ngoài năm mươi.

Hiện nay tại xã Phù Lỗ huyện Kim Hoa còn đền thờ với tên đề Kim Hoa nữ học sĩ. Ngôi đền được xây dựng ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

Sinh thời bà đã sáng tác rất nhiều thơ phần ứng khẩu, phóng bút… đa số không được gom thành tập, nên sớm bị thất truyền.

Ngoài ra bà còn có tập thơ nhan đề Mai trang tập. Rất tiếc cũng ở vào tình trạng mất mát.

May thay, trong vài bộ sách Văn học sử có in mươi bài thơ của nữ sĩ Ngô Chi Lan, trong đó có bốn bài thất ngôn tuyệt từ vịnh xuân, hạ, thu, đông. Tương truyền phần chữ Hán của 4 bài này đã được người xưa khắc trên bộ tứ bình bằng đá “vân mẫu” (đá có ánh ngũ sắc).

Đến nay, chúng ta còn được đọc những vần thơ ý nhị thâm thuý của bà thật may mắn xiết bao! Quả thật bà đã là một trong số nữ thi sĩ đầu tiên để lại dấu ấn sâu đậm trong nền văn học viết của nước nhà.

Sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Ngô Chi Lan từ thế kỷ 15 xa xưa ấy đã khiến nữ giới cầm bút hậu thế chúng ta thêm phần tự hào.


Nhắn tin cho tác giả
Đào Phú Hùng @ 20:42 12/02/2012
Số lượt xem: 1010
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến