Chào mừng quý vị đến với Website của thầy Đào Phú Hùng-TVQN.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Nhà thơ Kiên Giang

Images58
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Lê Trung Chánh (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:27' 27-03-2011
Dung lượng: 9.9 KB
Số lượt tải: 10
Mô tả:

Kiên Giang (sinh năm 1929) là một trong các nghệ danh của nhà thơ, soạn giả cải lương Việt Nam, nổi tiếng với bài thơ "Hoa trắng thôi cài trên áo tím". Ông còn được xem là thầy của 2 soạn giả nổi tiếng khác là Hà Triều - Hoa Phượng.


Tiểu sử

Nhà thơ Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Ông là đồng hương của nhà văn Sơn Nam. Năm 1943 ông theo học trường tư Lê Bá Cang ở Sài Gòn.

Ngoài làm thơ, Kiên Giang, với nghệ danh là Hà Huy Hà, còn là một soạn giả cải lương rất nổi tiếng thời đó, cùng với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều - Hoa Phượng, Quy Sắc,... Các tác phẩm cải lương của ông có thể kể đến Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, trong đó Người vợ không bao giờ cưới đã giúp cho nghệ sĩ Thanh Nga đạt giải Thanh Tâm và trở thành một ngôi sao trong giới cải lương.

Trước 1975, Kiên Giang còn làm ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn của Sài Gòn như Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng,... Ông từng tham gia phong trào ký giả ăn mày và dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại những quy chế khắt khe của chính quyền cũ áp đặt lên giới báo chí. Vì hành động này, Kiên Giang đã bị đi tù.

Sau 1975, Kiên Giang làm Phó đoàn cải lương Thanh Nga, kiêm cán bộ phòng nghệ thuật sân khấu.

Ông từng làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh qua 3 nhiệm kì.

Hiện nay, nhà thơ - soạn giả Kiên Giang đang tá túc tại nhà một người quen ở Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, sống thiếu thốn, không có người thân bên cạnh.

Tác phẩm

Thơ
  • Hoa trắng thôi cài trên áo tím (1962)
  • Lúa sạ miền Nam (1970)
  • Quê hương thơ ấu
Cải lương
  • Người đẹp bán tơ (1956)
  • Con đò Thủ Thiêm (1957)
  • Người vợ không bao giờ cưới (1958 – với Phúc - Nguyên)
  • Ngưu Lang Chức Nữ
  • Áo cưới trước cổng chùa
  • Phấn lá men rừng
  • Từ trường học đến trường làng
  • Dòng nước ngược
  • Chia đều hạnh phúc
  • Trương Chi Mỵ Nương
  • Mây chiều xuyên nguyệt thôn
  • Sương phủ nửa chừng xuân
  • Chén cơm sông núi
  • Hồi trống trường làng
  • Lưu Bình - Dương Lễ
  • Rất nhiều bài tân cổ giao duyên: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cao quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây...
  • THƠ     
  • Bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Hoa trắng thôi cài trên áo tím có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất của Kiên Giang, đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và được nhiều ca sĩ thể hiện rất thành công. Theo Kiên Giang: "Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH - cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH. đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn: 'Con Tám NH. vẫn chờ mày'. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Kết trước là:

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ nay tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tím trên mồ người xưa

thành cái kết:

Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ở trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi !

Năm 1999, hãng phim TFS Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có làm phim "Chiếc giỏ đời người" về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ"

"TIỀN VÀ LÁ" : MỘT CHUYỆN TÌNH ĐẸP - Lê Ngọc Trác

Có những nhà thơ chinh phục người đọc bằng những ngôn từ sang trọng, ngữ nghĩa sâu sắc, đa dạng hay bằng những vần thơ tân kỳ. Cũng có những nhà thơ làm lay động tâm hồn người yêu thơ bằng những vần thơ dung dị, chân thật, được viết ra từ tận đáy lòng. Và, nhà thơ Kiên Giang ở trong trường phái này.

Nhà thơ Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh. Ông sinh ngày 17/02/1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Hiện nay Kiên Giang thường trú tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với làm thơ, Kiên Giang còn là soạn giả cải lương nổi tiếng của miền Nam với bút danh Hà Huy Hà. Trước năm 1975, Kiên Giang là một trong những người phụ trách và thực hiện chương trình tiếng thơ "Mây tầng" – Chương trình Tao Đàn một thời từng làm say  mê bao người yêu thơ trong và ngoài nước.

 

Về thơ, Kiên Giang đã xuất bản: Hoa trắng thôi cài trên áo tím (1962), Quê hương thơ ấu (1970), Lúa sạ miền Nam (1970).

 

Kiên Giang nổi tiếng trên thi đàn với thi phẩm Hoa trắng thôi cài trên áo tím từ những năm 50 – 60 của thế kỷ XX. Hoa trắng thôi cài trên áo tím  là một bài thơ trường thiên ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ, đến nay vẫn còn có sức hấp dẫn người yêu thơ. Bài thơ là câu chuyện tình tuổi học trò ngây thơ, thánh thiện của một người con trai ngoại đạo đối với người con gái có đạo đã làm lay động tâm hồn nhiều thế hệ người yêu thơ.

 

Kiên Giang viết nhiều về Mẹ, về quê hương đất nước, về miền châu thổ Cửu Long Giang, về tình yêu lứa đôi. Thơ của ông bình dị, tự nhiên mang tính chân quê, nhưng tràn đầy tình cảm, được thể hiện với một tâm hồn miền Nam đôn hậu, nên tạo được cảm xúc gần gũi trong người đọc. Riêng thơ tình của Kiên Giang mang tính tự sự, như những câu chuyện kể về tình yêu đầy trắc trở, dang dở, buồn đau trong cuộc đời. Bài thơ "Tiền và lá" của Kiên Giang là một trong những câu chuyện kể về tình yêu:

 

"Ngày thơ, hớt tóc "miểng rùa"
Ngày thơ, mẹ bắt đeo bùa "cầu ông"
Đôi ta cùng học vỡ lòng
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cùng một sắc tranh
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào.
Đêm vàng so bóng trăng cao
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời.
Anh moi đất nắn"tượng người"
Em thơ thẩn nhặt lá rơi... làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên
Anh đem "người đất" đổi "tiền lá rơi"
Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua.
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi.
Tiền không là lá em ơi
Tiền là giấy bạc của đời in ra.
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Tôi gom lá đốt, khói lên tận trời!
Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời họp một mình tôi... vui gì!"
             (1956
)

 

Bài thơ lục bát chỉ có 24 câu âm hưởng ca dao, Kiên Giang đã kể cho chúng ta nghe chuyện đời, chuyện tình của đôi nam nữ từ thưở tóc còn để chỏm, thơ dại cho đến lúc trưởng thành. Một câu chuyện tình đẹp. Tuy đoạn cuối là nỗi buồn của người con trai phải chia xa người yêu trong ngang trái của cuộc đời. Qua bài thơ, Kiên Giang đã đưa chúng ta về với hình ảnh của một miền quê cách đây hơn nửa thế kỷ. Cảnh sinh hoạt của một miệt vườn, cảnh vui chơi của những em bé thơ ngây rất hồn nhiên, đẹp đẽ và đáng yêu nhường nào. Cái độc đáo của Kiên Giang là đã đưa hình ảnh những đứa trẻ "hớt tóc miểng rùa", "đeo bùa cầu ông". Cảnh moi đất nắn "tượng người", nhặt tiền "lá rơi", chơi buôn bán của trẻ em làng quê vào trong thơ một cách nhuần nhuyễn, gần gũi và thân thương biết bao. Hiện tại, chúng ta đang sống trong một thời đại công nghiệp hóa, làng quê ngày càng bị đô thị hóa. Trẻ con ngày nay không còn cảnh "hớt tóc miểng rùa, đeo bùa cầu ông", chơi mua bán bằng "tiền lá" hay "ngồi bên giếng đếm sao trên trời"; mà chúng ta thường bắt gặp trẻ con bây giờ chơi đồ chơi điện tử, siêu nhân, gươm súng điện tử... Cái cảnh sinh hoạt của trẻ em ở miền quê trong thơ của Kiên Giang đến bây giờ chỉ còn trong ký ức.  Buồn. Tiếc thay!...

 

Trong "Tiền và lá", Kiên Giang nhẹ nhàng nói về giai cấp, thân phận con người, về chữ "tình" và chữ "tiền", trong cuộc sống. Mãnh lực đồng tiền nhiều khi làm cho người ta gặp cảnh ngang trái, đánh mất hạnh phúc trong đời.

 

Phải chăng chính vì vậy nên Kiên Giang đã từng viết những câu thơ đầy chua xót:

 

"...
Trường đời là chuyến tàu xa
Tình đời là chuyến tàu qua vội vàng
..."

(Trích trong tập thơ "Hoa trắng thôi cài trên áo tím")

 

Tôi nhớ không lầm trước năm 1975, từ bài thơ "Tiền và lá" của Kiên Giang, nhiều đoàn cải lương ở miền Nam đã dàn dựng thành kịch bản cải lương, khi công diễn đã lấy biết bao nhiêu nước mắt của khán giả thời bấy giờ.

 

Với những thành công trong thơ, cùng với những nhà thơ ở miền châu thổ sông Cửu Long, Kiên Giang đã góp phần làm cho dòng chảy của nền thi ca Việt Nam thêm phong phú và đầy hương sắc.

 


Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến